mắt đen
May 14 2010, 12:03 PM
Cũng lâu rồi không đọc cổ tích, mà hình như các bạn trẻ bây giờ chả biết cổ tích là gì. Thôi thì tớ post lại cho mọi người có chút hoài niệm
mắt đen
May 14 2010, 12:04 PM
Truyện 1:
Thiếu Phụ Nam Xương
Ngày xưa, có một cô gái lấy chồng họ Trương, ăn ở với nhau mới được một con, thì người chồng phải đi thú biên thùy, ở vùng mạn ngược. Thuở ấy, đường đi lại khó khăn, người vợ ở nhà với con, tháng ngày trông đợi, không được tin tức, chẳng thấy chồng về.
Ngày chồng ra đi con đang bồng ẵm, đến khi con đã biết nói, biết đi, thiếu phụ cũng vẫn sớm khuya vò võ một mình. Đêm đêm với ngọn đèn dầu, khâu vá trông chừng cho con ngủ, thiếu phụ thao thức thương nhớ đến chồng. Một hôm trời nổi giông tố, sấm chớp rung chuyển dữ dội, gió mạnh phụt tắt ngọn đèn, đứa con đang ngủ bỗng giựt mình khóc thét. Thiếu phụ ôm chầm lấy con, khêu thắp lại ngọn bấc, thấy con vẫn khóc, mới chỉ cái bóng mình ở trên phên, dỗ con:
"Nín đi con, con đừng sợ, có bố con đây này!"
Đứa bé nhìn bóng rồi nín khóc.
Đêm hôm sau, đứa bé lại đòi gặp cha trước khi đi ngủ. Người mẹ càng nhớ đến chồng, ngồi nghiêng mình trước đèn cho bóng chiếu vào phên. Nàng dạy con chắp hai tay lại trước bóng mà nói:
"Bố ạ, con đi ngủ".
Thằng bé bắt chước làm theo mẹ mà gọi cha. Thiếu phụ một mình đối bóng, trông con nằm ngủ mà nghĩ đến chồng.
Rồi một ngày kia, người chồng mãn lính trở về. Sau bao nhiêu năm xa cách, mừng mừng tủi tủi thiếu phụ lặng nhìn chồng sung sướng ứa nước mắt. Để chồng chơi với con, nàng chạy ra chợ mua thức ăn về làm lễ tạ ơn trên và mừng chồng về.
Trong lúc vắng vợ, người chồng hôn nựng con, bảo nó gọi mình là bố, thì đứa bé vùng vằng nói:
"Không, ông không phải là bố con. Bố con đến tối mới về cơ".
Nghe lời con trẻ, người chồng đau xót tận đáy lòng, song vì tự ái không hỏi han gì vợ mà âm thầm đau khổ một mình. Thái độ lạnh nhạt bất ngờ của người chồng khiến cho người vợ ngạc nhiên khó hiểu, song đành lặng im chịu đựng.
Khi làm lễ bàn thờ tổ tiên để tạ ơn trên đã phù hộ cho trở về bình an, người chồng lạy xong rồi cuộn ngay chiếu lại, không để cho vợ lễ. Thiếu phụ nước mắt lưng tròng tủi nhục, nghẹn ngào không hiểu duyên cớ vì đâu.
Không khí trong nhà bỗng trở nên nặng nề, khó thở. Trước những lời thắc mắc bóng gió cũng như những cử chỉ âu yếm kín đáo của vợ, người chồng chồng lạnh lùng lảng tránh. Với con cũng không buồn ngó ngàng đến nữa.
Mâm cơm cúng ở bàn thờ bưng xuống, người chồng không mó đến đũa. Cơm canh đã nguội lạnh, người vợ lặng yên chờ đợi, trong lòng khốn khổ không cùng. Rồi bỗng nhiên người chồng đứng lên, xách khăn áo ra đi, không một lời nói năng.
Người vợ không hiểu chồng làm sao bỗng dưng lại thế, nhẫn nhục chờ đợi, ngày này qua ngày khác. Âm thầm đau đớn, khóc hết nước mắt, cho đến một hôm, không còn chịu đựng được nữa, thiếu phụ gởi gắm con lại cho người hàng xóm, ra bờ sông gieo mình xuống giòng nước cuốn trôi đi.
Người chồng hay tin vợ trầm mình, trong lòng nghi hoặc trở về nhà. Tối đến, khi thắp đèn lên, người chồng bỗng thấy con chắp tay lại chào bóng mình in trên phên để đi ngủ. Người chồng lạnh toát người nhận ngay ra tất cả sự lầm lẫn ghê gớm của mình đã giết mất người vợ chung thủy.
Qua hôm sau, người chồng ẵm con ra bờ sông mà khóc than thảm thiết, rồi lập đàn tràng để làm siêu cho vợ thác oan. Để tạ tội với vợ, người chồng thề nhất quyết sống một mình cho đến chết, lo nuôi con học hành thành đạt.
Dân ở trong vùng nghe chuyện người vợ tiết nghĩa bèn lập miếu thờ ở bờ sông, gọi là Miếu vợ chàng Trương.
Đến đời hậu Lê, vua Thái Tôn nhân qua đó, nghe chuyện lấy làm cảm kích, có vịnh một bài thơ còn truyền đến ngày nay:
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dầu nhắn đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng...
mắt đen
May 15 2010, 11:37 AM
Vàng lấy con vua
Ngày xửa ngày xưa, có một em bé tên là Vàng, Vàng mới lên tám tuổi thì bố chết. Nhà nghèo, em phải theo mẹ đi làm thuê khắp đó đây. Quần quật suốt ngày mà mẹ con vẫn không đủ ăn. Những hôm mưa rét thấu xương cũng không được nghỉ. Nhiều bữa Vàng chỉ uống nước đi ngủ, còn dành một ít cơm nguội cho bà mẹ. Bà mẹ càng thương xót cho đứa con tội nghiệp của mình.
Ngày tháng qua đi, năm ấy Vàng đã lớn và mẹ Vàng cũng đã già yếu. Vàng một thân đi làm nuôi mẹ và nuôi mình. Thỉnh thoảng Vàng còn làm giúp hàng xóm. Tuy công việc nặng nhọc, bụng đói, nhưng ai nhờ việc gì Vàng đều cố sức làm đâu ra đấy. nét mặt lúc nào cũng vui vẻ. Vì vậy láng giềng ai cũng quý mến Vàng.
Tiếng lành đồn xa. Nhà vua biết tin Vàng làm ăn khéo, lại giỏi. Một hôm bèn cho lính đi gọi Vàng về lợp nhà cho mình. Vàng đến và trèo lên nhà ngay.
Trong khi dỡ mái xuống, chàng trông thấy phía dưới sân nhà một cô gái đang ngồi dệt vải. Vàng muốn biết mặt cô gái liền ngửa cổ nhìn lên, nhưng cô gái vẫn cúi mặt xuống tấm vải, tay đưa thoi. Vàng nghĩ ra một kế khác: lấy sợi lạt cứa vào tay mình cho chảy máu xuống tấm vải. Nhưng uổng công, cô gái vẫn thản nhiên đưa thoi. Vàng thấy không xong, càng nóng lòng bèn đánh bạo gọi:
- Cô ơi! Cho tôi xin miếng giẻ buộc chỗ đứt tay cho khỏi chảy máu.
Lần này cô gái đứng dậy đi tìm cái gậy và buộc miếng vải vào đầu gậy rồi từ từ giơ lên nóc nhà nhưng vẫn không hề nhìn Vàng. Thấy đầu gậy đã sát tay mình mà cô nàng không ngẩng mặt lên, Vàng lại giả vờ gọi:
- Cô ơi! Chua tới... chỗ này cơ mà!
Cô gái tưởng mình giơ lệch chỗ, mới ngửa mặt nhìn lên. Vàng thấy khuôn mặt xinh đẹp của cô gái hiện ra.
Tối hôm ấy, Vàng về nhà nói với mẹ:
- Mẹ ơi! Hôm nay con đi lợp nhà cho vua thấy con gái của vua xinh đẹp lắm. Mẹ đi hỏi cho con lấy cô ta làm vợ.
Bà mẹ nghe nói không khỏi ngạc nhiên. Một lát, bà thở dài:
- Mẹ con ta nghèo. Vua nào lại gả con gái cho con.
Nhưng Vàng cứ một mực van nài mẹ. Cuối cùng để chiều con trai, bà đi hỏi vua. Mẹ Vàng chưa nói hết lời, nhà vua đã nổi cơn lôi đình mắng vào mặt:
- Nhà ngươi láo thật. Dám đi hỏi con gái ta cho thằng khố rách áo ôm nhà mày ư? Lính đâu, đem mụ già vào cối giã.
Bọn lính răm rắp tuân theo. Mẹ Vàng bị một trận nhừ tử. Bà van lạy mãi nhà vua mới bằng lòng thả cho về.
Khi mẹ đi, Vàng ở nhà đứng ngồi không yên, bụng như có lửa đốt. Vàng hết ra trông lại vào ngóng. Thoáng thấy mẹ về, Vàng đã hỏi ngay:
- Mẹ ơi! Được chứ! Nhà vua đồng ý chưa?
Mẹ Vàng thở không ra hơi:
- Vợ con gì. Chưa nói hết lời, mẹ đã bị vua sai lính bỏ vào cối giã, lại còn chửi mắng. Con muốn lấy thì đi mà hỏi.
Ít lâu sau, Vàng lại đòi mẹ đi hỏi con gái vua cho mình. Thương con, mẹ Vàng lại đánh liều đi hỏi một lần nữa.
Khi bà già đến, nhà vua lần này không chửi mắng và sai lính bỏ vào cối giã như lần trước nữa, mà nói với mẹ Vàng:
- Nhà ngươi muốn công chúa ta làm con dâu thì về bảo con trai tìm cho ta một chum bọ chó và một cái chĩnh dái gà đem đến đây nộp thì ta mới gả công chúa cho.
Mẹ Vàng về nhà thuật lại cho con nghe. Vàng lập tức đi tìm khắp chốn, khắp nơi, nhưng không sao kiếm được một chum bọ chó và một chĩnh dái gà. Chàng buồn rầu khóc bên bờ suối. Bỗng một cụ già râu tóc bạc phơ hiện lên, hỏi:
- Làm sao cháu khóc?
Vàng thưa:
- Mẹ cháu đi hỏi con gái vua cho cháu, vua bảo phải tìm bằng đủ một chum bọ chó, một chĩnh dái gà thì vua mới gả. Cháu đi tìm khắp chốn nơi không được cháu buồn cháu khóc.
Cụ già nói:
- Không lo, cháu về trồng thật nhiều vừng đen và khoai sọ, đợi khi vừng chín, khoai sọ mập cũ, cháu gặt vừng đập lấy hột cho vào chum, rồi bắt mấy con bọ chó rắc lên trên, bịt kín miệng chum lại. Sau đó, cháu đào khoai sọ đem cạo vỏ luộc chín đổ vào chĩnh rồi bắt mấy con gà sống mổ thịt lấy dái nó để trên chĩnh khoai và bịt kín lại đem đi nộp vua.
Y lời, Vàng về nhà làm theo lời cụ dặn. Mấy tháng sau, vừng đã chín, khoai sọ cũng đầy đủ. Vàng làm đúng như lời cụ già và mang đến cho nhà vua.
Vua nhận được đồ lễ bèn mở ngay chum bọ chó nếm thử. Vua khen:
- Úi chao! Ngon quá! Thơm như vừng.
Rồi vua lại mở chĩnh dái gà ăn mấy miếng tấm tắc:
- Tuyệt! Tuyệt! Bùi như khoai sọ.
Ăn hết chum bọ chó và chĩnh dái gà, nhà vua trở mặt:
- Ngươi muốn làm rể ta à? Chưa đủ đâu! Ngươi phải đi kiếm một đôi gà tiên, một trống một mái đem về nộp cho ta thì lúc đó mới nói đến chuyện vợ con.
Vàng tức lắm. Nhưng đành phải đi tìm gà tiên. Được ba ngày, đi mỏi rời chân mà không thấy gà tiên đâu cả. Vàng ôm mặt khóc. Cụ già khi trước lại hiện lên hỏi:
- Làm sao cháu khóc?
Vàng đáp:
- Thưa cụ, vua bảo cháu phải đi tìm một đôi gà tiên, một trống, một mái tới nộp thì vua mới gả con gái cho. Cháu đi tìm ba ngày mà chẳng được.
Nói xong, Vàng lại ôm mặt khóc.
Cụ già bảo:
- Thôi, không khóc nữa. Gần nhà cháu có cái hang đá, bên trong có vợ chồng gà tiên. Hàng ngày cứ đến giờ ngọ, vợ chồng mới ra cửa hang. Gà chồng đứng một bên gáy, gà vợ đứng một bên nghe, cháu đến rình mà bắt. Gà gáy tiếng thứ nhất, chúng xê lại gần nhau, cháu đừng bắt, gáy tiếng thứ hai, chúng xích lại gần nhau hơn, cháu đừng bắt. Đến tiếng thứ ba, chúng sát lại bên nhau, cháu lại bắt cả đôi sẽ có gà tiên nộp vua.
Hôm sau, Vàng tìm đến hang đá ngồi rình. Đúng giờ ngọ bỗng cửa hang từ từ mở ra. Ga trống tiên, gà mái tiên đi ra, mỗi con đứng một bên cửa hang. Gà trống bệ vệ vươn cổ gáy tiếng thứ nhất, chúng xê lại gần nhau. Vàng vẫn ngồi yên. Gáy tiếng thứ hai, đôi gà xích vào nhau tí nữa. Vàng vẫn không nhúc nhích. Gáy tiếng thứ ba, gà trống, gà mái sát lại liền nhau. Lúc đó Vàng mới xông đến chộp lấy chân gà. Nhưng lạ thay, gà khoẻ vô cùng, chúng kéo tay Vàng vào hang, tức thì cửa đóng sập lại. Tay Vàng bị kẹp, đau quá cố rút ra, nhưng càng rút càng đau.
Qua một đêm, bà mẹ ở nhà không thấy con về sốt ruột quá bèn đi tìm. Đi mãi, đi mãi đến hang đá, bà thấy con nằm lăn ở cửa hang, bèn hỏi:
- Sao thế! Sao lại bị kẹp cả tay hả Vàng?
Vàng mếu máo đáp:
- Con tìm được gà tiên rồi. Nó lôi con vào, con vẫn túm chặt chân nó, bị kẹp... mẹ cứu con với!
Mẹ Vàng vừa thương vừa bực, trách con:
- Đấy mẹ đã bảo! Mình là con nhà nghèo ,à đòi lấy con vua. Lần trước vua bắt con nộp bọ, dái gà, lần này lại bắt nộp gà tiên đến nỗi mắc cạn khổ thế này.
Nói xong, bà túm lấy con kéo ra ngoài. Nhưng kéo thế nào cũng không ra. Bà tức quá nói tục một câu. Hang thần nghe không nhịn được, phì cười, cửa hang mở toang chốc lát, Vàng rút được tay, kéo cả đôi gà ra ngoài và trở về nộp vua.
Đến nhà vua, Vàng quỳ xuống mà rằng:
- Muôn tâu Hoàng thượng, thần đi tìm bọ chó, dái gà, gà tiên, con đã tìm đủ rồi, bây giờ vua cho thần được đón công chúa vua về ở với mẹ con thần.
Vua lại bảo:
- Đồ lễ cưới ngươi nộp đủ rồi. Bây giờ ngươi muốn đón vợ thì phải có nhà ở. Trong vùng này, có ông Thạch Long nhà to nhất, đẹp nhất, ngươi về làm được như thế thì hãy đến đây ta mới cho rước dâu.
Vàng lại quay về. Đến nhà Thạch Long, chàng lấy gậy đạp xung quanh nhà để đánh tiếng, Thạch Long nghe có người đạp vào nhà mình, chạy ra hỏi:
- Ai đập gì nhà tôi đấy?
Vàng đáp:
- Vua bảo tôi làm nhà to đẹp như nhà ông thì mới gả công chúa cho. Tôi đến thử đây.
Thạch Long nói:
- Cái hạng mày mà lấy được con vua thì tao nhường lại cái nhà này cho mày ở.
- Ông nói thật hay nói dối?
- Tao nói dối với cái thứ mày làm gì?
Vàng lấy cái đinh đóng vào cột rồi bảo Thạch Long: "Tu mi nam tử, nói thì phải như đnh đóng cột. Tôi đóng cái đinh này để làm chứng".
Vàng đi đến nhà vua xin đón vợ về nhà mới. Hàng xóm láng giềng rậm rịch theo sau, thổi kèn, đánh trống, chuyện trò vui vẻ. Đến nhà Thạch Long, Vàng gọi Thạch Long và bảo:
- Tôi đón dâu về rồi, ông dọn nhà đi nơi khác cho vợ chồng tôi ở.
Thạch Long mắng:
- Nhà của tao sao mày lại đuổi tao đi?
Vàng vặn lại:
- Hôm nọ ông nói gì với tôi. Đinh đóng cột còn kia. Ông ở được thì ông ở cái nhà này. Không nhổ được thì ông đi nơi khác.
Thạch Long cố hết sức nhổ nhưng không được, phải đi nơi khác.
Vàng đưa vợ về nhà Thạch Long, rồi cả hai vợ chồng cùng đi đón mẹ. Khi vợ Vàng đến, mẹ Vàng không tin, hỏi:
- Cô là ai mà đến đây đón tôi?
Vợ Vàng thưa:
- Con là con dâu của mẹ. Vợ chồng con về đón mẹ đến ở với chúng con.
Mẹ Vàng trông thấy Vàng mới tin, bèn theo hai con đi ở nhà mới. Từ đấy gia đình mẹ Vàng thêm một người con dâu biết dệt vải giỏi. Nàng cũng rất mực thương quý mẹ chồng.
Năm sua, có giặc vua nước bên sang cướp. Vàng được vua cha sai đi đánh. Chàng bàn cùng với quân lính lấy rơm bện hàng nghìn hàng vạn người giả đem cắm khắp ngả đường, chờ giặc. Giặc đến, thấy bên Vàng quân sĩ hăng hái, lại đông hàng nghìn, hàng vạn, bèn rút lui.
Nhà vua thấy con rể tài giỏi, làm giặc lui không phải đánh, liền nhường ngôi cho.
Từ đó dân bản yên ổn làm ăn. Vợ chồng Vàng sống hạnh phúc bên nhau.
mắt đen
May 16 2010, 01:21 PM
Chú thỏ tinh khôn
Từ ngày xửa ngày xưa đồng bào người Việt gốc Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn thường kể chuyện về một chú thỏ tinh khôn. Chuyện của chú nhiều và dài lắm, vì trí khôn của chú lớn và chiến công của chú kể hết năm này qua năm khác không thể hết được.
Một hôm thỏ đang nằm ngủ dưới một gốc cây sung. Bỗng một quả sung chín rụng rơi đánh bốp một cái giữa đầu thỏ. Vốn nhát, thỏ giật bắn mình chồm dậy và chạy. Chạy như gió cuốn, chạy như bay. Hổ thấy thỏ chạy thì cản đường hỏi tại sao thỏ chạy. Thỏ trợn mắt nói:
- Không chạy thì chết mất ngáp. Đất đang sụt dưới chân ầm ầm kia kìa... Chạy đi thôi...
Hổ nghe hoảng hồn, cũng cắm đầu chạy đứt hơi đuổi theo thỏ. Nhưng hổ làm sao mà đuổi kịp.
Thỏ chạy trước còn hổ thì vừa chạy vừa thở phì phò như kéo bễ. Thần Gió Giêvata cười phì bảo:
- Hổ ơi sao mày to xác thế mà để thằng thỏ nhãi ranh nó lừa mày. Đất có bao giờ sụt đâu mà cần phải chạy.
Nghe thần gió, hổ tin ngay liền tìm thỏ để trừng phạt cho bõ tức. Nhưng thỏ bình tĩnh hỏi:
- Bác hổ ạ, bác ăn thịt cháu cũng được thôi, nhưng phiền một nỗi là toàn thể loài vật vừa bầu cháu làm vua rồi. Bác từ nay cũng phải coi cháu là vua. Nếu bác không tin bác cứ thử đi với cháu mà xem. Chắc hơn hết bác cứ để cháu ngồi lên lưng, ta đi dạo một vòng, nếu không đúng là các loài sợ oai vua của cháu thì bác cứ việc ăn thịt.
Hổ ngờ ngệch bằng lòng cõng thỏ đi một vòng rừng, đi đến đâu trăm loài đều sợ sệt bỏ chạy. Họ chạy vì hổ mà hổ cứ tưởng họ sợ oai thỏ thật. Lúc ấy thỏ mới ra oai quát hổ rằng:
- Nhà ngươi thấy chưa! Trăm loài trong rừng đều sợ ta. Thế mà nhà ngươi còn dám láo với ta. Lần này thì ta tha, vì nhà ngươi chưa biết oai của ta là vua của núi rừng, lần sau ta sẽ trị tội nghe không!...
Hổ sợ quá đành vâng lời.
Lừa hổ xong, thỏ cũng bỏ trốn luôn, nhưng vì bụng đói, thỏ muốn trở lại bãi cỏ xanh non bên bờ suối. Thỏ đã định phóng mình chạy ra đấy nhưng chợt nhớ lần trước mình đã lừa cá sấu nếu ra cá sấu có thể giết chết mình mất. Thỏ sợ đành gậm cỏ trong rừng vừa già vừa khô. Ăn mãi chán quá, thỏ tự nhủ có thể cá sấu quên chuyện cũ rồi chăng. Ra đến nơi thấy cá sấu bận ngủ không để ý gì đến thỏ, thỏ càng tin là cá sấu đã quên chuyện cũ thật. Ai ngờ cá sấu cũng rất cao tay, lừa thỏ đến gần bèn chẳng nói chẳng rằng há mồm ra đớp gọn, chỉ còn chờ nuốt vào trong bụng nữa là hết đời con thỏ tinh khôn. Thỏ sợ quá, rụt rè hỏi:
- Này bác cá sấu, bác có định ăn thịt cháu thì ăn nhanh lên cứ ngậm mãi làm gì, cháu sợ lắm.
Cá sấu cười mím miệng:
- Hút... hút... hút... tao sẽ làm cho mày sợ chết khiếp... chết khiếp... chết khiếp... trước khi nuốt mày vào bụng... hút... hút... hút...
Thỏ nhận ngay ra rằng muốn giữ mồm, mõm cá sấu dài phải mím chặt nên chỉ cười hút... hút được mà thôi... Thế là thỏ ta cười vang:
- A ha, buồn cười quá... buồn cười quá... cá sấu ngọng nên cứ phải kêu hút... út... làm sao ta sợ được... Muốn ta sợ mày phải cười ha... ha... cơ... chứ thế này thì buồn cười đến đứt ruột mất thôi.
Cá sấu tức quá quát:
- Tao mà ngọng à... thằng thỏ ranh... nghe đây... dỏng tai mà nghe ta cười đây... ha... ha... ha...
Để cười ha ha cá sấu phải ngoác miệng ra, thế là lập tức thỏ nhảy tót ra khỏi mệng cá sấu và quay lại dạy cá sấu rằng:
- Này thằng cá sấu ngu ngốc kia... Nghe đây... Từ nay trong miệng đang ngậm mồi thì chớ có cười ha ha nghe không...
Dứt lời thỏ chạy vào rừng.
Một lần có người muốn thử tài của thỏ, bèn đưa cho thỏ một cái đơn kiện vô cùng tối nghĩa. Đơn viết rằng: "Cách đây ít lâu, có người lấy trộm của tôi một con trâu. Không phải trâu đực cũng không phải trâu cái. Không phải năm ngoái cũng không phải năm nay, người lấy không phải họ hàng, cũng không phải người ngoài".
Thỏ chuyển đơn kiện lên các quan, các quan đều ngơ ngác chẳng thể nào hiểu được lá đơn kiện nói gì, phải nhờ thỏ giảng giải rằng:
- Vụ mất xảy ra vào đêm ba mươi Tết. Vì đêm đó có thể gọi là đêm cuối cùng của năm ngoái, nhưng cũng có thể coi là ngày đầu tiên của năm nay. Còn con trâu bị mất trộm không phải là trâu đực cũng không phải là trâu cái chỉ có thể là trâu thiến. Mà kẻ lấy trộm dứt khoát là thằng rể. Vì chỉ có thằng rể mới không phải là người trong nhưng lại không phải là người ngoài họ.
Nghe thỏ giải thích các quan toà đề phải kính phục. Lúc đó, quan toà đang đau đầu về một vụ kiện không cách nào xử được, vội xin thỏ xử giùm. Vụ kiện đầu đuôi như sau:
Có một người cưới vợ. Anh ta yêu quý vợ đến nỗi suốt ngày chẳng muốn rời nửa bước. Nhưng rồi đến buổi loạn ly anh phải đăng lính, không đi không được. Người vợ tiễn chồng đi hết đường này đến đường khác không nỡ rời tay. Đến mãi gốc cây đa kia, người chồng mới dừng lại tâm sự biết bao nhiêu điều, mãi đến khi trống thúc quân vang dậy, loa thét động trời, người chồng mới đành dứt áo ra đi. Không ngờ ở gốc đa có một con yêu tinh. Nó nghe hết mọi điều tâm sự của hai vợ chồng, lại thấy người vợ xinh đẹp, nó đành nghĩ ra một kế độc. Vài hôm sau nó bèn giả dạng thành người chồng vác gươm, giáo về quê hương nói rằng vua không bắt lính nữa. Vì biết tất cả mọi điều riêng tư của hai người nên con yêu tinh làm cho người vợ cứ yên trí đây là chồng mình thật không một chút nghi ngờ gì.
Người chồng sau một thời gian chinh chiến được hồi hương, anh mừng lắm vội vã về nhà đập cửa gọi vợ. Người vợ mở cửa thì thấy lạ quá, ngoài cửa cũng là chồng mình. Người chồng trong nhà quát hỏi người chồng ngoài cửa rằng:
- Mày ở đâu mà dám giả dạng là tao để nhận xằng vợ tao.
Người chồng mới về uất ức vặn lại:
- Người đàn bà này chính là vợ tao, tao mới cưới được vài ngày thì phải đăng lính. Mày ở đâu đến mà dám nhận xằng vợ tao là vợ mày.
Hai bên cãi nhau chẳng bên nào chịu bên nào, đến người vợ cũng đành chịu, vì hai người giống nhau quá, không thể nào phân biệt được ai là chồng thật ai là chồng giả.
Việc đưa lên quan, quan cũng đành chịu. Vừa may có thỏ ta nổi tiếng quan toà, nên chính quan toà nhờ thỏ xử hộ.
Thỏ bèn hỏi hai người chồng rằng:
- Ai là chồng thật của người đàn bà này?
Cả hai người đều tranh nhau nhận. Thỏ gật gật đầu ra vẻ suy nghĩ rồi bảo cả hai người rằng:
- Nếu là chồng thật thì phải biết trong cái hũ nào của vợ giấu một viêm kim cương. Chị vợ đâu mang hết hũ nhà chị ra đây!
Người vợ ngạc nhiên vì mình có giấu kim cương vào hũ bao giờ đâu, nhưng nghe lệnh của thỏ, chị cũng đành khuân hết các hũ nhà mình ra trước toà. Bấy giờ thỏ mới bảo rằng:
- Ai trong hai người không dùng tay, không được chạm vào hũ mà chui vào trong hũ ngậm được viên kim cương ra thì người đó chính là chồng người đàn bà này.
Nghe lệnh như thế, quỷ ta mừng lắm, bèn rùng mình, chui ngay vào hũ đầu tiên, thỏ ta bèn ra lệnh cho người chồng thật bịt ngay miệng hũ lại, mang vứt xuống sông. Quan toà ngơ ngác, thì thỏ cười mà rằng:
- Phải vứt nó đi thôi, giam nó vào hũ vì nó là yêu tinh. Chỉ yêu tinh mới có thể chui vào trong hũ. Thôi hai vợ chồng anh về nhà đi. Đừng chần chừ ở đây mà quan toà ác hơn cả yêu tinh lại cướp mất vợ của anh, thì thỏ tôi cũng đành bó tay không còn cách gì giúp nữa đâu.
Dứt lời thỏ nhảy tót vào rừng làm cho đám quan toà tức điên lên mà chẳng kịp làm gì cả...
Truyện cổ Việt Nam
Truyền thuyết & giai thoại
Truyện cổ Andersen
Truyện cổ Grim
Truyện cổ thế giới
Thần thoại Hy Lạp & La Mã
Anh chàng nghèo khổ
Nàng Ngón Út
Ông tướng gầy
Gốc tích tiếng kêu của vạc, cộc, dủ dỉ, đa đa và chuột
Sự tích ông đầu rau
Sự tích con khỉ
Sự tích chim đa đa
Sự tích cái chổi
Gốc tích cái nốt dưới cổ con trâu
Sự tích con sam
Sự tích chim quốc
Sự tích trầu, cau và vôi
Chiếc cầu phúc đức
Sự Tích Núi Ngũ Hành
Sự tích củ mài
Chồng xấu, chồng đẹp
Con cóc là cậu ông trời
Trí khôn của ta đây!
Bà Chúa Ngọc
Anh em họ Điền
mắt đen
May 18 2010, 07:58 AM
Nàng Ngón Út
Phạm Xuân Thông – Thiên Sanh Cảnh kể
Xưa có một nhà nọ, tuy hai vợ chồng tuổi đã ngoài bốn mươi nhưng không con. Hai người rất lấy làm buồn phiền về sự hẩm hiu của mình.
Một hôm, hai vợ chống bàn với nhau sắm lễ vật đến tháp cầu con. Họ khấn rằng:
- Cúi lạy thánh thần, xin ngài xuống phước cho chúng con, ban cho một đứa con, dù là gái, xấu xí bé nhỏ cũng được, vì chúng con tuổi mỗi ngày một già mà không có tiếng trẻ làm vui.
Sau đó mấy hôm thì người vợ quả nhiên có nghén. Bà nói cho người chồng biết. Hai vợ chồng rất lấy làm vui mừng. Họ ngày đêm hy vọng đứa bé sắp ra đời sẽ khôn ngoan, xinh đẹp hơn các đứa bé khác.
Nhưng lạ thay, đã mười tháng mà chưa chuyển dạ. Rồi hai năm qua, ba năm trôi qua. Hai vợ chồng rất lo sợ, buồn phiền.
Rồi cũng đến ngày bà chuyển dạ. Bà sinh ra một bé gái chỉ bằng ngón tay út. Hai vợ chồng nhìn con mà lòng đau như cắt. Tuy nhiên, họ cũng hy vọng rồi đứa bé sẽ lớn dần.
Hai vợ chồng đặt tên cho con gái là Ka Điêng. Từ ngày sinh Ka Điêng, hai vợ chồng ít đi thăm bà con hàng xóm. Họ thấy tủi hổ về đứa con quái dị.
Thấm thoắt đã được mười sáu năm, đứa bé vẫn không lớn lên thêm được tí nào, nhưng cũng biết nói, biết đi như người thường. Hai vợ chồng già ngày càng buồn chán và lo sợ. Họ càng than phiền về số phận hẩm hiu của mình.
Rồi một hôm, hai vợ chồng to nhỏ bàn với nhau tìm cách bỏ chết đứa bé. Người chồng trước mặt vợ thì thuần tình đem đứa bé bỏ vào rừng sâu, gửi nó cho thú dữ, nhưng khi nhìn lại đứa con ruột thịt thì không nỡ lòng.
Đêm hôm ấy, người chồng lén sắp cơm gạo, mắm muối đủ chừng một tháng. Sáng hôm sau ông gạt nước mắt bồng con gái vào rừng, cùng với số lượng đồ dự trữ hồi đêm ông đã dấu ngoài bụi. Vào đến rừng sâu, ông chặt cây làm một cái chòi nhỏ. Dựng xong chiếc chòi thì trời đã quá trưa. Ông lấy gói cơm mở ra rồi hai cha con cùng ăn. Đang ăn. Ka Điêng thấy cha tự dưng nước mắt chảy ròng bèn hỏi:
- Ơ kìa, tại sao cha lại khóc, hay cha sợ thú rừng?
Người cha nhìn con ngậm ngùi rằng:
- Cha không sợ thú rừng đâu con ạ! Cha khóc vì một lát nữa hai cha con sẽ tạm xa nhau. Mẹ con từ khi sinh con đến nay đã mười sáu năm, nhưng không lúc nào được khuây khoả, vì con không được như những đứa con hàng xóm, mặc dù cha mẹ đã hết lòng chăm sóc con. Cha mẹ nghĩ không nở tâm, nhưng không còn cách nào hơn. Nay cha dựng cho con cái chòi này, cùng miếng rẫy kia, để con trồng dưa sống tạm qua ngày. Thỉnh thoảng cha sẽ đến thăm con. Cha cầu trời phù hộ cho con được an lành, thoát khỏi các tai hoạ.
Nàng Ka Điêng nghe cha nói vậy cũng mủi lòng. Thế rồi hai cha con ngậm ngùi chia tay.
Từ khi đem con vào rừng sâu, thỉnh thoảng cha nàng lại ghé thăm và chăm sóc đám dưa dùm Ka Điêng. Với ngày tháng, Ka Điêng vẫn sống bình thường, rẫy dưa hấu ngày một tốt tươi và ra hoa kết quả.
Một hôm, có một hoàng tử dẫn đoàn quân đi săn bắn. Khi trở về, đoàn quân đi qua đám dưa của nàng Ka Điêng. Đoàn quân lấy làm lạ không hiểu tại sao giữa nơi rừng sâu này lại có trơ trọi mỗi rẫy dưa. Họ muốn ghé vào hái ăn. Nhưng thấy vắng chủ, bèn đến trình hoàng tử, và xin vào hái trái ăn đỡ khát. Nghe nói có rẫy dưa hấu tốt quả ở chốn rừng sâu, hoàng tử đích thân vào đám dưa xem thử chủ rẫy là ai. Hoàng tử nhìn thấy những trái dưa to thì làm lạ lắm. Nhưng chưa gặp được chủ dưa nên chưa dám hái. Chàng hái thử một trái bổ ra ăn nếm. Mới ăn được nửa trái, hoàng tử đã thấy no, dưa rất ngọt mà lại nhiều nước. Nửa còn lại hoàng tử đành bỏ đấy.
Chờ cho đoàn người lạ đi khỏi, nàng Ka Điêng mới từ chỗ nấp ra thăm dưa. Thấy nửa trái dưa bỏ dở còn đỏ tươi, nàng thấy tiếc, bèn nhặt lên ăn nốt.
Từ khi Ka Điêng ăn nửa quả dưa thừa ấy, người nàng tự nhiên trở nên khác thường. Nàng đã thụ thai.
Một năm sau, Ka Điêng sinh ra một bé trai mặt mày rất khôi ngô tuấn tú. Nàng không còn quạnh hiu như lúc trước. Mặc dù không biết người cha của đứa bé là ai nhưng nàng vẫn cảm thấy vui sướng.
Bẵng đi hơn một năm trời. Một hôm hoàng tử lại đem quân đi săn bắn. Lúc đi ngang rẫy dưa năm trước bỗng chàng nghe có tiếng hát ru con với giọng buồn quyến rũ, mà lại như oán than. Hoàng tử lấy làm lạ, định vào nhưng trời sắp tối, nên chàng lưỡng lự. Tiếng hát não nề cứ cất lên, khiến cho hoàng tử càng mê mẫn không đành rời bước. Hoàng tử quyết ở lại để tìm xem ai mà có tiếng hát quyến rũ lòng người đến thế.
Nàng Ka Điêng vừa trông thấy một chàng trai xinh đẹp từ xa đang xăm xăm bước tới chỗ mình, liền liền bỏ con trên nôi mà lẫn trốn. Hoàng tử bước vào chòi tranh thấy đứa bé đang nằm trên nôi một mình. Nhìn đứa bé, hoàng tử tự nhiên thấy mình yêu nó lạ lùng. Không cón do dự, chàng bèn cuối xuống bồng đứa bé lên hôn. Chàng ẵm đứa bé đi quan chòi tìm ngóng tìm xem mẹ đứa bé ở đâu, mà mãi vẫn không thấy. Rồi trời sập tối lúc nào không rõ. Còn về nàng Ka Điêng, khi nhìn thấy chàng trai lạ ẵm con mình thì định ra giành lấy, nhưng lại thôi vì sợ người lạ thấy mặt, xấu hổ. Nàng nhìn lên chàng trai thì rất ngạc nhiên, vì thấy mặt con mình giống chàng như một. Nàng suy nghĩ, nhưng lại cảm thấy vô lí, vì nàng chưa hề chung đụng với chàng cũng như với bất cứ người con trai nào bao giờ.
Đang miên man suy nghĩ thì đứa bé khóc ré lên, nàng hốt hoảng bối rối, bèn lên tiếng:
- Xin người khách hãy trả đứa bé vào nôi cho tôi. Và xin khách lạ vui lòng đi khỏi chòi tranh xấu xí này.
Nghe có tiếng người, hoàng tử đưa mắt tìm tứ phía, nhưng vẫn chẳng thấy ai cả. Hoàng tử bèn lên tiếng:
- Hỡi người mẹ đứa bé khôi ngô tuấn tú này, hãy vui lòng cho tôi thấy mặt, dù chỉ một đôi chút cũng cam lòng. Nếu nàng từ chối thì tôi sẽ ở trọn đêm nay lại đây, ngày mai tôi sẽ bắt luôn đứa bé đem về.
Nàng Ka Điêng nghe hoàng tử nói vậy bèn từ chỗ nấp bước ra. Hoàng tử hết sức ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà vô cùng bé nhỏ mà lại là mẹ của một đứa bé to lớn như những đứa trẻ con khác. Mãi một lúc sau hoàng tử mới ngẫm nghĩ và nói:
- Nói thật cùng em, ý anh đã quyết, dù có gian lao cực nhọc đến đâu anh cũng cam lòng cùng chung sống với em và đứa trẻ khôi ngô này. Mong em đừng từ chối, biết đâu đấy chẳng là duyên trời định.
Nàng Ka Điêng lấy làm cảm động bởi những lời lẽ chân tình của chàng, nên bằng lòng chấp nhận cuộc kết nghĩa trăm năm. Hai người nên vợ nên chồng từ đó.
Việc hoàng tử lấy một người vợ vô cùng nhỏ bé dần dần đã đến tai vua cha và hoàng hậu, cùng hai người anh.
Một hôm, hai người anh vào tâu vua cha để tìm cách ly gián hoàng tử với nàng Ka Điêng, vì cho rằng Ka Điêng là một yêu quái hiện hình, dùng tà thuật mê hoặc em mình, biết đâu chẳng có ngày nó lại làm đổ triều chính gia phong.
Nghe hai hoàng tử nói có lý, một hôm nhà vua cho gọi cả ba con trai lại, rồi truyền rằng:
- Ta truyền cho các con, nội trong bảy hôm, các con hãy dẫn đến cho ta nhìn mặt ba nàng dâu cùng với lễ vật. Mỗi người con dâu phải mang cho ta một bộ y phục, gồm đầy đủ hia mũ, áo quần, cùng quà bánh. Nếu lễ vật của ai vừa ý ta thì sẽ nhường ngôi, nhưng nếu ai không tuân lệnh thì sẽ bị nghiêm trị không dung thứ.
Hoàng tử út nghe lệnh vua ban khắc khe như vậy thì rất lo sợ. Chàng lấy làm chán nản không muốn trở lại chòi tranh, nhưng lại nhớ đến đứa bé và người vợ, nên đành quay gót trở về.
Nàng Ka Điêng thấy chồng trở về với bộ mặt lo buồn, thì hỏi:
- Hình như chàng có điều gì sầu muộn, chẳng hay tại triều nội có việc gì? Chàng có thể cho em biết được chăng?
Hoàng tử bèn thuật lại cho vợ nghe những điều mà vua cha vừa ban. Nghe xong câu chuyện, nàng Ka Điêng mỉm cười với chồng:
- Xin chàng đừng buồn, em sẽ lo liệu mọi việc chu toàn. Xin chàng chớ bận tâm về những chuyện nhỏ mọn ấy.
Hoàng tử nghe nàng nói mà lòng vẫn hồ nghi, nhưng không còn cách nào khác, nên cũng yên lòng chờ xem.
Sắp đến ngày hẹn mà vẫn chưa thấy vợ sắm sửa được gì, hoàng tử càng sốt ruột. Nàng Ka Điêng thấy chồng không được bình tâm chỉ cười mà không nói gì, nên chàng càng thêm lo lắng.
Đến ngày hẹn, hoàng tử vô cùng bối rối, lo nghĩ. Chàng định nói với vợ về những lo lắng của mình, thì bỗng trong chớp mắt hiện lên một người con gái vô cùng xinh đẹp đứng mỉm cười trước mặt chàng. Nàng Ka Điêng đã hiện nguyên hình. Nàng cười nói với hoàng tử:
- Chàng không nhận ra em ư? Em là Ka Điêng vợ chàng đây. Chúng ta hãy sớm lên đường về kinh kẻo muộn, phiền đến vua cha cùng các anh trông đợi.
Lúc bấy giờ hoàng tử vẫn chưa hế ngạc nhiên, nhưng cũng rất sung sướng. Hai vợ chồng vội vàng sắm sửa lễ vật cùng hành trang để lên đường về kinh. Tại triều nội, đức vua và hoàng hậu ngừ trên ngai vàng, hai bên đủ mặt bá quan văn võ. Nhà vua cho gọi từng người con lên dâng lễ. Đầu tiên là hai vợ chồng anh cả, rồi tiếp đến vợ chồng hoàng tử hai. Cả hai đôi vợ chồng người anh đều dâng mũ, áo, quà bánh, nhưng đều bị vua cha và hoàng hậu loại, vì quà bánh thì không có gì lạ và ngon hơn những loại vua và hoàng hậu đã từng ăn, áo mũ thì cũng không có cái nào vừa cả.
Đến lượt hoàng tử út, đức vua và hoàng hậu vừa trông thấy vợ chàng thì tưởng như có tiên nga giáng thế. Vua cha và hoàng hậu cùng bá quan phải trầm trồ khen ngợi vì sắc đẹp của nàng. Khi nàng Ka Điêng dân quà bánh lên, vừa mở ra, mùi vị đã bốc lên ngào ngạt. Vua cha và hoàng hậu dùng bánh của nàng rất ngon lành. Đến bộ cẩm bào, món đồ quý giá toàn là trân châu, mã não, vua xỏ thử thì thứ nào cũng vừa như in. Dùng thử xong mọi thứ đâu đấy, vua cha hỏi cô con dâu út:
- Con hãy tâu cho cha rõ tên và ý nghĩa của hai loại bánh này?
Nàng Ka Điên cúi đầu thưa:
- Muôn tâu đức phụ hoàng và mẫu hậu, bánh hình tròn màu đỏ gọi là Sakaya làm bằng trứng gà và đường, chưng cách thuỷ, tượng trưng cho thần thái dương hệ, ví như phụ hoàng, thuộc về dương. Còn loại bánh làm bằng nếp hương, giữa có nhân đậu tên là Pay nung tường trưng mặt đất, thuộc âm ví như mẫu hậu. Ý nghĩa của hai loại bánh trên là tỏ lòng kính biếu bậc sinh thành. Kính mong phụ hoàng cùng mẫu hậu nhận sự biết ơn chân thành của chúng con.
Nhà vua cùng hoàng hậu khi nghe vợ hoàn tử út nói vậy lấy làm cảm động, và cùng khen nàng dâu thảo. Nhà vua phán:
- Trẫm nay tuổi già sức yếu. Xét hoàng tử út là người trung can, nghĩa khí, một gươn tốt soi chung toàn dân. Vậy trước đông đủ các mặt các khanh, ta truyền cho hoàn tử út được kế vị ngai vàng. Còn hai loại bánh Sakaya và Pay nung phải truyền khắp bàn dân thiên hạ, để từ nay mỗi khi làm lễ cầu hôn, hoặc giỗ tổ tiên, mọi người đều phải dùng hai loại bánh này.
Truyền lệnh xong thì nhà vua bãi triều. Hôm sau triều đình tổ chức đại lễ tôn hoàng tử út lên làm vua và nàng Ka Điêng lên làm hoàng hậu.
Bàn dân thiên hạ quanh vùng nghe tin cũng tự tổ chức ăn mừng vị tân vương và tân hoàng hậu. Còn hai người anh và hai chị dâu từ lấy hổ thẹn kéo nhau ra về
alanin
May 18 2010, 10:39 AM
Ai mua hành tôi (truyện này đọc từ hồi còn bé tí, nhưng thik)
*********************************
Ngày xưa ba anh em nhà kia, nghèo quá, nghèo đến nỗi bố chết, không góp đủ tiền mua nỗi chiếc áo quan cỗ tạp.
Ba anh em phải bó di-hài bố vào trong một cái chiếu cũ rồi chờ tối khuya mới dám đốt đuốc vác mai khiêng bố ra đồng, vì chôn ban ngày ban mặt sợ làng xóm trông thấy người ta chê cười.
Tha-ma thì xa, mà ba anh em thì cùng đói cơm, gầy còm, ốm yếu nên đi được một quãng lại phải đặt bố xuống để thở.
Một lát sau, anh Cả khiêng đằng đầu vui mừng bảo anh Hai và anh Ba:
- Thầy linh thiêng quá, hai chú ạ, thầy thấy chúng ta yếu đuối nên nhẹ bỗng hẳn đi, tôi tưởng như khiêng chiếu không thôi, chú ạ.
Anh Hai khiêng đằng chân cũng cười, nói:
- Ờ nhỉ, như không có gì nữa, bác ạ.
Còn người em út cầm đuốc thì chẳng nói gì, cứ việc nhẩn nha rọi đường cho hai anh đi.
Kỳ thực thì không phải vì người chết linh thiêng mà vì cái thây đã rơi tụt xuống đất từ lúc nào, nhưng hai người khiêng mệt nhọc quá nên chẳng biết gì cả.
Thế rồi ba anh em đi đến tha ma đào huyệt chôn bố nghĩa là chôn cái chiếu không có xác bố nằm trong.
Lúc trở về, một cơn gió mạnh làm tắt mất đuốc. Nhưng không sao, đường trong làng ba anh em đã quen thuộc lắm, lần mò mà đi cũng được. Bỗng người em út vấp phải một vật răn rắn, bèn cúi xuống sờ soạng rồi kêu to bảo hai anh:
- Cái thây ma hai anh ạ. Lạnh quá đi mất thôi.
Hai anh cùng xuống rờ:
- Ưø, cái thây ma thực?
Giá đuốc không tắt thì ba người đã nhận thấy cái thây ma đó chính là bố mình.
Anh Cả ngậm ngùi bảo hai em:
- Chả biết ai mà lại chết đường chết xá thế này nhỉ!
Anh Hai cũng buồn rầu nói:
- Chắc người ta ngộ gió, xa cửa xa nhà nên mới chết bỏ xác ở giữa đường như thế này.
Anh Ba bàn:
- Thương hại quá nhỉ! Hay anh em ta chôn làm phúc?
- Phải đấy! Chôn làm phúc.
Tức thì ba anh em xúm lại khiêng cái tử thi, rồi chôn vùi ở một cái gò nhỏ bên đường.
Chiều hôm sau ba anh em ra đồng viếng mộ thấy mả bố vẫn dẹt đét, còn mả của ai bên đường không biết thì mối xông đùn lên cao ụ. Ba người cũng không ngờ rằng đó là mả mình chôn làm phúc tối hôm trước vì đêm khuya không đèn không đóm chôn vội chôn vàng thì sáng ra còn nhớ chỗ nào vào chỗ nào nữa...
Đêm hôm ấy anh Cả thấy con rồng vàng về báo mộng rằng:
-“ Ông Cả ơi! Ông để nhầm mả bố ông vào chính giữa hàm tôi, làm tôi đau lắm không chịu được. Tôi van ông, ông chạy đi nơi khác cho. Tôi có bao nhiêu vàng bạc xin biếu ông tuốt, để đền ơn ông.
Sáng dậy anh Cả thấy gian nhà chật hẹp của mình đầy ních những thỏi vàng, thỏi bạc sáng nhoáng. Anh ta vội vàng cất ráo cả đi vào một nơi kín, rồi xăm xăm ra đồng chạy mả bố nhích sang một bên. Anh ta không bàn với anh em, sợ chúng hỏi vặn vì cớ gì mộ cha vừa yên đã chạy ngay như thế. Giấu diếm không xong, mà nói thật lại phải chia bạc cho hai em, rất là không nên.
Nhưng đêm hôm sau, con rồng vàng lại về báo mộng cho anh Hai, vì thật ra anh Cả đã chạy mả bố đâu, anh chỉ mới chôn lại cái chiếu mà anh tưởng có gói thây bố mình. Con rồng vàng về báo mộng rằng:
-“ Ông Hai ơi, ông để nhầm mả bố ông vào chính giữa hàm tôi, làm tôi đau lắm không chịu được. Tôi van ông, ông chạy đi nơi khác cho. Tôi hết cả vàng bạc rồi chỉ còn kim cương châu báu thôi, tôi xin biếu ông tuốt để đền ơn ông.”
Sáng sớm anh Hai mở bừng mắt nhìn ra thấy chói lòe, vì gian nhà chật hẹp, tồi tàn của anh có đầy ánh hào quang rực rỡ tưng bừng của kim cương, châu báu. Anh ta vội cất ráo cả đi vào một nơi thật kín rồi hấp tấp chạy ra đồng đào phắt mả bố lên chôn xích cái chiếu sang một bên, cũng như anh Cả, anh ta tưởng cái chiếu ấy có gói thi thể bố mình ở trong.
Xong xuôi, anh ta trở về nhà hí hửng mừng thầm định bụng sẽ bán kim cương châu báu đi để tậu ruộng thật nhiều, dựng nhà thực đẹp thực to.
Đến lượt anh Ba thấy con rồng vàng về báo mộng vì mả chưa chạy thì hàm nó còn đau. Nó báo mộng rằng:
- “Ông Ba ơi, ông để nhầm mả bố ông vào chính giữa hàm tôi, làm tôi đau đớn lắm không chịu được. Tôi van ông, ông chạy đi nơi khác cho. Tôi hết cả vàng bạc, kim cương, châu báu rồi, chỉ còn mỗi một lọ nước này tôi xin biếu để đền ơn ông. Nước trong lọ quí lắm đấy, sau này ông sẽ dùng được nhiều việc rất lạ.”
Sáng dậy anh Ba không thấy gian nhà chật hẹp tồi tàn của mình đầy ních những thỏi vàng thỏi bạc sáng nhoáng hay rực rỡ tưng bừng ánh kim cương, châu báu. Anh ta chỉ thấy ở giữa nhà có cái lọ sành đóng nút. Bèn đến mở nút ghé mũi ngửi thì, giời ơi! Mùi thơm sực nức xông ra khắp nhà, lại văng vẳng trong mùi thơm có tiếng đàn tiếng địch véo von réo rắt. Anh ta đậy vội nút lại, tức thì tiếng âm nhạc ngừng bặt.
Anh Ba mỉm cười lẩm bẩm:
- Nước quái gì mà lại biết đàn biết hát thế này! Hãy cất đi đã vì con rồng vàng nó bảo sau này dùng được nhiều việc.
Anh ta bèn đặt lọ nước vào cái quang treo lên xà nhà rất là cẩn thận. Rồi nhớ đền lời con rồng vàng nhờ giúp, anh ta vác mai đến bãi tha ma để chạy nhích mả bố ra khỏi hàm nó chẳng nó kêu đau tội nghiệp!
Nhưng cũng như hai anh trước, anh Ba chỉ chôn lại cái chiếu, còn mả bố thì vẫn táng ở hàm con rồng như cũ.
Trong khi anh Ba đi chạy mộ cho cha, thì chị Ba ở ngoài về, trông thấy cái lọ treo lủng lẳng trên xà nhà. Chị ta bật cười nói một mình:
- Lẩm cẩm quá đi mất thôi! Chẳng biết lọ gì mà nó treo lên đây thế này?
Bèn lấy xuống mở nút, rồi chẳng buồn ghé mũi ngửi, chẳng kịp lưu ý đến tiếng địch bay ra, chị ta vội rút tay ra nguyền rủa:
- Rõ nỡm ở đâu á! Tưởng có gì lạ, té ra đựng rặt nước mưa là nước mưa, mà lạnh chết đi được.
Nhưng chị Ba kinh ngạc nhìn bàn tay cổ tay trắng muốt như mới lột da!
- Ôi, nước gì quí thế này!
Chị ta vui sướng quá, bê tấp lọ nước ra sau nhà rồi tắm gội kỳ cọ từ đầu đến chân. Tức thì chị ta trở nên một nàng tiên lộng lẫy, da trắng như ngà, tóc óng như mây, mắt phượng mày ngài, chân tay nhỏ nhắn xinh xẻo.
Liền đấy có một luống hành. Những cây hành được nước tắm ở mình của chị Ba chảy vào gốc, lớn vụt ngay lên, lá dài bằng đòn gánh, củ to bằng cái bình vôi.
Anh Ba ở tha ma về thấy mất lọ nước quý lại nghe có tiếng bì bõm ở sau nhà, liền chạy ra xem. Lúc ấy chị Ba vừa dốc cạn lọ nước. Anh Ba toan mắng vợ nhưng nhìn thấy vợ xinh đẹp quá anh ta lại thôi.
Từ đấy, anh ta chỉ suốt ngày ngồi ngắm nghía vợ chẳng thiết đi làm ruộng, làm nương để kiếm ăn nữa. Vợ trách móc mãi anh ta mới chịu vác cuốc vác cày ra đồng. Nhưng chốc chốc anh ta lại quay về nhà ngắm vợ, chẳng làm nên khoai nên ngô gì cả.
Vợ giận vợ khóc. Anh đâm hoảng, bèn nghĩ ra một cách: anh ta lấy một cái mo cau trát vôi thực trắng, thực mịn rồi vẽ dung nhan vợ lên tranh. Khi ra đồng làm lụng, anh ta cầm cái mo cau ở bên cạnh để mà ngắm nghía ảnh vợ cho đỡ nhớ.
Qua một tháng, vợ mỗi ngày một đẹp thêm, mà cây hành mỗi ngày một lớn hơn. Vợ với hành, anh ta cho là cái khoái nhất trên đời.
Một hôm, anh ta đương trồng ngô, thấy một con quạ cứ sán lăn đến bới, để nhặt những hạt anh ta vừa mới vùi. Anh ta tức mình quá cầm viên gạch lia trúng chân quạ. Nó đau quá kêu ầm lên và bay đi mất. Anh Ba đắc chí cười ha hả. Nhưng chỉ lát sau, con quạ trở lại liền bay xả xuống cướp cái mo của anh Ba: nó đã lập tâm trả thù anh.
Mà nó trả thù được thực. Nó bay tít đến kinh đô, liệng hai, ba vòng trên cung điện nhà vua, rồi chờ khi vua ra sân rồng, nó bỏ rơi cái mo cau xuống. Vua nhặt lên xem thấy có họa dung nhan một người đàn bà cực kỳ xinh đẹp, thì lấy làm kinh ngạc, tấm tắc khen thầm: “Quái! Sao có người đẹp đến thế này!”
Vua bèn hạ lệnh cho đòi thợ truyền thần vào cung để vẽ lại hình người đàn bà đẹp lên trên một trăm cái mo cau khác, rồi giao cho một trăm sứ giả mang theo đi khắp trong nước để tìm cho bằng được người ấy rước về làm cung phi mới nghe.
Chẳng bao lâu sứ giả hỏi thăm lần được nhà anh Ba và bắt nghiến chị Ba đem về dâng vua. Vua sung sướng, cất ngay chị Ba lên chức Tây cung hoàng hậu rồi ban yến tiệc cho bá quan văn võ trong suốt mấy ngày đêm.
Trong khi ấy thì ở gian lều chật hẹp tồi tàn anh Ba nhớ vợ đẹp ngồi khóc y ỷ, chẳng thiết gì đến công việc đồng án nữa. Trông thấy những cây hành lá dài bằng đòn gánh củ to bằng bình vôi, anh ta càng khóc to, và anh ta nghĩ thầm: “Đem bán quách đi thôi, chứ để luống hành lại, mình chỉ tổ nhớ đến vợ!”
Anh ta bèn xếp một gánh nặng trĩu tuy mỗi bên quang chỉ có năm củ hành thôi rồi quẩy đi rao bán:
“ Dọc bằng đòn gánh
“ Củ bằng bình vôi.
“ Ai mua hành tôi
“ Thời thương tôi với!”
Rao mãi chẳng có ai mua, người thường ai dám dùng thứ hành ma quái ấy, anh ta bèn gánh đến kinh đô để bán.
Bấy giờ vợ anh ta đang ở trong cung. Tuy đã lên làm Tây cung hoàng hậu mà chị ta vẫn thường nhớ chồng cũ chẳng sao khuây khỏa được. Hôm mới bị bắt, chị ta gào khóc thảm thiết. Vua phải dỗ mãi chị ta mới nín. Nhưng từ đấy, chị ta như ngây như dại, như câm như điếc và cả ngày chẳng buồn hé môi dù chỉ để mỉm một nụ cười.
Vua thấy thế lấy làm khổ tâm lắm, vì ngài chỉ muốn được ngắm cái cười nghiêng thành của Tây cung hoàng hậu. Ngài đã sai sứ giả đi khắp trong nước bắt hết các vai hề có tiếng về làm trò để Tây cung hoàng hậu xem. Nhưng Tây cung hoàng hậu vẫn chẳng cười. Ngài bèn xuống chiếu truyền rằng:
“ Trong bàn dân thiên hạ, bất cứ người nào hễ làm cho Tây cung hoàng hậu cười một tiếng thì tức khắc được cất lên chức thượng thư”.
Ngày hôm sau, ở khắp các nơi, từ thành thị cho chí thôn quê người ta kéo về kinh đô như nước chảy để tranh giành chức thượng thư. Vì không cần học rộng tài cao, sôi kinh nấu sử chỉ cốt làm hề khéo léo là được nhảy lên ngồi ghế thượng thư ngay thì ai mà không háo hức. Nghe đâu, trong bọn có cả mấy ông trưởng giả giàu xụ gánh tiền nghìn bạc vạn về kinh để toan chạy chọt vì họ tưởng chỉ đút lót quan thái giám trình Tây cung hoàng hậu cười cho một cái là mình thành thượng thư liền.
Song không những Tây cung hoàng hậu vẫn không chịu cười mà nghe bọn kia làm trò hề, ngài lại càng bực mình thêm.
Giữa lúc ấy, ở ngoài phố lanh lãnh có tiếng rao:
“ Dọc bằng đòn gánh,
“ Củ bằng bình vôi,
“ Ai mua hành tôi,
“ Thời thương tôi với”.
Nhận được tiếng chồng, chị vợ sung sướng phá lên cười. Vua cùng văn võ bá quan kinh ngạc, bọn người dự thi trò hề đều thất vọng, thì thấy khi mình nhăn mặt nhăn mũi, khoa chân múa tay, hoàng hậu vẫn không nhích mép, thế mà đến lúc mình không làm gì cả thì tự nhiên ngài lại bật lên cười.
Vua truyền quân lính ra xem ai rao. Tức thì quân lính lôi anh Ba với gánh hành của anh ta vào. Vua mới bảo anh ta rằng:
- Trẫm tốn biết bao công của mà vẫn không làm cho hoàng hậu cười được, nay ngươi chỉ rao mỗi một câu đủ khiến cho hoàng hậu cười rất to rất vui. Vậy ngươi có phép gì lạ thế, tâu ngay với trẫm rồi trẫm ban thưởng cho.
Anh Ba đặt gánh tâu bày:
- Bẩm đức vua, con cũng không biết tại sao bà hoàng hậu nghe con rao lại cười như thế.
Vua phán:
- Vậy ngươi thử rao lại xem nào.
Anh Ba vâng lời đặt gánh lên vai rao to:
“ Dọc bằng đòn gánh,
“ Củ bằng bình vôi,
“ Dọc bằng đòn gánh,
“ Củ bằng bình vôi,
Tức thì vợ anh ta lại cười, cười chảy cả nước mắt nước mũi ra. Và chị chàng chỉ trông thấy mặt chồng cũng đủ vui sướng cười ngất rồi, có cần gì phải chồng rao mới cười. Nhưng vua cứ tưởng củ hành to tướng kia có phép lạ, bèn bảo anh hàng hành:
- Trẫm thử thay đổi quần áo với ngươi xem.
Rồi vua cởi áo trào, cởi xiêm rồng, tháo mũ vàng đưa cho anh Ba mặc và truyền anh Ba lên ngồi trên ngai cùng với Tây cung hoàng hậu, còn mình thì mặc bộ quần áo nâu của anh ta vào người, quẩy gánh hành của anh ta lên vai rồi rao lớn:
Ai mua hành tôi,
Thời thương tôi với
Ai mua hành tôi,
Thời thương tôi với.
Anh hàng hành nghe rao liền quát:
- Tên nào dám hỗn hào gánh hàng vào bán trong cung điện nhà vua. Quân lính đâu đem chặt cổ nó cho ta.
Tiếng dạ ran. Quân lính kéo ồ vào điện anh hàng hành giả hiệu đem chém ngay trước sân rồng không kịp phân giải.
Thế là anh Ba lên làm vua, và vợ anh ta thì làm hoàng hậu.